Cơ quan khí tượng triều nguyễn

Khâm thiên giám được xây dựng từ thời vua Gia Long (1802-1820), có nhiệm vụ quan sát thiên văn, khí tượng, làm lịch, xem ngày lành tháng tốt để tiến hành các kỳ đại lễ và dĩ nhiên là cả trọng trách tư vấn địa lý phong thủy cho triều đình.

Về chức trách, nhiệm vụ của Khâm thiên giám, sách “Đại Nam thực lục” chép: Phàm suy tính để chiêm nghiệm sai độ của từng năm, bình trật để phân đều khí hậu, ghi chép lịch số để nêu đúng năm và mùa, miêu tả sắc mây và hình vật để xem đoán tượng trời, xem ngày giờ để chọn tốt lành, coi giọt lậu để báo trống canh. Mọi sự có quan hệ về cách suy tính ấy đều giao cho Khâm thiên giám (1). Châu bản triều Nguyễn hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I còn lưu khoảng 1.000 văn bản liên quan đến Khâm thiên giám, trong đó có nhiều văn bản là bản Tấu của Khâm thiên giám về việc dự báo các hiện tượng thiên nhiên mây, mưa, nắng, gió, dự đoán nhật thực, nguyệt thực, các sao… cùng những điềm lành hay dở mà những hiện tượng đó mang lại. Chẳng hạn, bản Tấu của Khâm thiên giám vào tháng 2 năm Minh Mạng 19 (1838) có nội dung: Chúng thần ở Khâm thiên giám kính tâu: Giờ Thân ngày hôm nay có tiếng sấm đầu tiên tại phía tây, âm của nó ỳ ỳ không to. Chúng thần tra sách nói rằng: Tiếng sấm đầu tiên âm hòa nhã thì năm đó tốt. Lại nói tiếng sấm đầu tiên nếu ở phía tây thì lúa chín được một nửa sẽ có nhiều sâu bọ. Dám xin theo lệ tâu lên. Vua Minh Mạng phê trên bản Tấu: Đã biết (2).

Cổng vào Khâm thiên giám. Ảnh tư liệu

Bên cạnh các bản Tấu về vấn đề dự báo thời tiết, xem thiên văn, Châu bản triều Nguyễn còn nhiều văn bản về Khâm thiên giám với chức năng nhiệm vụ làm lịch, báo giờ, xem ngày lành tháng tốt để tiến hành các đại lễ và tư vấn địa lý phong thủy cho triều đình. Châu bản triều Minh Mạng còn lưu bản Tấu của Khâm thiên giám ngày 6-2 năm Minh Mạng 19 về việc chọn ngày lành để tiến hành lễ tế như sau: Chúng thần ở Khâm thiên giám tâu: Nay gặp ngày đại lễ ở Nam Giao, thần giám xin chọn ngày Ất Mão 23 tháng 2, đúng dịp “Tam hợp phúc sinh hiệp cát”(3).

Dưới thời vua Minh Mạng (1820-1841), vua cho dựng Quan Tượng Đài trên góc Tây Nam kinh thành Huế để làm nơi Khâm thiên giám quan sát thiên tượng.

Tổ chức nhân sự làm việc tại Khâm thiên giám dưới mỗi đời vua triều Nguyễn khác nhau. Buổi đầu thời Gia Long, Khâm thiên giám có hơn 50 người, “đặt câu kê 1 viên, cai hợp 1 viên, chiêm hậu 3 viên, suất chiêu hậu sinh 50 viên”(4). Năm Minh Mạng thứ 18, “định ngạch vị nhập lưu thư ở lại Khâm thiên giám là 30 viên, không cứ phải theo ngạch cũ nhiều đến 50 người”(5). Đến thời Thiệu Trị, con số này giảm xuống, sách “Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ” chép: “Thiệu Trị năm thứ ba, chuẩn y lời tâu: Lại dịch ty Khác cẩn, tuân theo lời đình nghị, giảm bớt 5 phần 10, liệu để 20 tên, thường xuyên làm việc công”(6).

Khâm thiên giám đặt dưới sự kiểm soát của một vị quan đứng đầu một cơ quan khác, tức kiêm nhiệm (gọi là Kiêm quản Khâm thiên giám sự vụ đại thần), nhưng trong công việc hằng ngày thì do Giám chính và Giám phó trực tiếp điều khiển; nhân viên có các chức Ngũ quan chính, Linh đài lang, các Thư lại và Vị nhập lưu thư lại làm thư ký. Tại các tỉnh có Ty Chiêm hậu là chi nhánh địa phương của Khâm thiên giám. Theo “Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ”, “Quản lý đại thần do vua đặc cách chọn bổ, không nhất định viên nào. Giám chính đốc suất nhân viên thuộc hạ làm việc, giao phó cùng coi sóc việc trong giám làm người tá nhị. Ngũ quan chính Linh đài lang đều xem xét đốc suất nhân viên thuộc hạ, theo người cai quản, chia nhau giữ việc xem xét chiêm nghiệm, chánh bát phẩm cánh cửu phẩm thư lại xướng xuất những người vị nhập lưu theo thủ lĩnh làm các việc công”(7).

Nhân sự được tuyển dụng vào Khâm thiên giám dưới triều Nguyễn căn cứ vào thực tài, am hiểu thiên văn địa lý, thậm chí coi trọng yếu tố “cha truyền con nối” vì việc quan sát thiên văn, khí tượng, làm lịch, xem ngày lành tháng tốt lúc bấy giờ thường theo kinh nghiệm. Năm 1836, vua Minh Mạng dụ: “Bộ Lễ thông báo đến các tỉnh Bắc Kỳ, nếu có người chiêm nghiệm tinh tường, suy xét mưa gió, cùng thông hiểu lịch thất chính (độ số trăng, sao) không phân biệt quan dân, các địa phương cấp bằng cho đến kinh đô để bổ dụng vào làm ở Khâm thiên giám”. Châu bản triều Nguyễn còn lưu bản Tấu của Khâm thiên giám vào năm Thiệu Trị thứ ba (1843) về việc sát hạch đề bạt quan chuyên về thiên văn lịch pháp với nội dung:

“Chúng thần ở Khâm thiên giám tấu: Trước đây đã có tập sớ đề cử trong đó kèm trình về Trần Ngọc Nhạn ở tỉnh An Giang và Đinh Lâm ở tỉnh Bắc Ninh đều am hiểu về lịch pháp. Trong đó, con trai của nguyên Công bộ Thiêm sự tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Hựu Vinh là Nguyễn Gia Thọ am hiểu về thiên văn, có nên sức xuống tỉnh đó cấp giấy tờ cho đến Kinh sát hạch xem có thể sử dụng được thì bổ dụng. Vâng được minh chỉ: Truyền cho tỉnh ấy cấp giấy tờ về kinh, Khâm thiên giám sát hạch rồi tâu lên. Trừ Trần Ngọc Nhạn chưa thấy có tư báo, Đinh Lâm đã cho nghỉ một tháng để điều dưỡng, đợi sau này sẽ đến sát hạch, còn Nguyễn Gia Thọ nay đã đến, được giao cho Khâm thiên giám xem xét sát hạch. Thần Hoàng Công Dương đã vâng hội đồng sát hạch, viên ấy có thể cho thu dụng, dám xin căn cứ theo tình hình cụ thể để tấu trình. Phụng chỉ: Nguyễn Gia Thọ đã qua quan Khâm thiên giám đó sát hạch, khá am hiểu về thiên văn. Gia ân cho Nguyễn Gia Thọ được đề bạt bổ vào chức Chánh bát phẩm thư lại ty Khác cẩn ở Khâm thiên giám để sung làm việc”(8).

Việc chọn bổ nhân sự vào Khâm thiên giám cũng được vua Thiệu Trị đặt ra yêu cầu cho miễn lệ hồi tỵ, quan trọng là phải am hiểu thiên văn. Sách “Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ” cũng ghi: Năm Thiệu Trị thứ tư (1844), theo nghị, xét rà lại ty ở Khâm thiên giám những người có họ hàng dâu gia với nhau lệ nên hồi tỵ(9). Được vua phê chữ son rằng: Khâm thiên giám chuyên coi khí tượng các ngôi sao, cốt cho truyền được phép ấy, không quan ngại việc khác, không như các nha môn khác, đều cho miễn lệ hồi tỵ, cũng nên giữ phép công mà làm, không được đem người thân thuộc không thông kỹ thuật mà đề cử bậy lên, tất có lỗi không nhỏ đâu.

Năm Tự Đức thứ 20 (1867), vua yêu cầu bộ rà soát các địa phương để tìm người tinh thông lịch pháp, địa lý, âm dương để xem xét bổ nhiệm vào Khâm thiên giám: Thuộc viên của Khâm thiên giám gần đây ít thấy tinh thông, lại không được người giỏi. Vậy sức cho các địa phương xem xét các nhân sĩ trong hạt, xem người nào tinh thông lịch pháp, địa lý, âm dương, hoặc chỉ giỏi một thứ, cũng nêu tên gửi bộ, sẽ xem xét sử dụng bổ chức. Theo đó, Bộ Lễ đã lục sức cho 23 tỉnh, đều nhận được trả lời không có hạng người đó, chỉ có quan đạo Hà Tĩnh là Tôn Thất Tích phúc trình rằng ở đạo đó có Nguyễn Quang Hành, người tổng Thượng Nghị, huyện Thạch Hà hơi biết về địa lý âm dương. Nay Nguyễn Quang Hành chờ xin chiểu theo lệ cấp mỗi tháng 2 quan tiền, 1 phương gạo để chi dùng, bắt đầu cấp từ mồng một tháng này. Chờ sát hạch xong, nếu không trúng thì cho về và dừng cấp tiền, gạo. Vua Tự Đức phê: Vọng giám thiếu nhiều, sao không sức để bổ sung(10).

Để hỗ trợ cho công việc quan sát khí tượng, làm lịch, xem ngày lành tháng tốt… triều đình cấp cho Khâm thiên giám nhiều bộ sách như “Trực chỉ chân nguyên”, “Nguyệt lệnh túy biên”, “Khâm định nghi tượng khảo hành”, “Ngự chế lịch tượng khảo hành”, “Luật lã thượng biên, hạ biên, tục biên”, “Ngự chế số ly tinh uẩn”, “Vật lý tiểu chí”, “Cách trí kính nguyên”, “Địa cầu huyết thư”… Bên cạnh đó, triều Nguyễn còn cấp cho Khâm thiên giám các công cụ đo thời gian, thời tiết, quan sát thiên văn… như đồng hồ cát, đồng nhật quy, cột đá trên bằng đồng khảm bạc để đo bóng mặt trời, phong vũ hàn thử biểu, đồ bản thiên văn nhật lịch, thiên văn tinh tú, kính hiển vi, ống nhòm, bàn xem hướng gió…

Đầu thế kỷ 20, do Pháp đã lập đài khí tượng cho toàn cõi Đông Dương tại Phù Liễn nên việc sử dụng Quan Tượng Đài không còn cần thiết nữa và vai trò của Khâm thiên giám chỉ còn gói gọn trong những việc làm lịch, xem ngày giờ tốt xấu, đất đai và chọn huyệt mã.

Về sau, Khâm thiên giám từ Nam đài chuyển về khu Bộ Học trên đường Hàn Thuyên và không còn hoạt động kể từ ngày chấm dứt chế độ quân chủ (năm 1945).

Như vậy, từng tồn tại trong lịch sử với chức năng, nhiệm vụ xác định ngày lành tháng tốt để tổ chức những lễ tế quan trọng hàng năm-được xem là nguồn cơn sự bình an, thịnh trị của nhà nước phong kiến xưa; dự đoán khí hậu, mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, nghiệm hiện tượng trời đất để cho dân biết thì giờ làm ăn; biên soạn lịch trong cả nước…, có thể thấy Khâm thiên giám đóng vai trò quan trọng đối với triều đình và trong đời sống của người dân thời phong kiến nước ta.

HỒNG NHUNG (tổng hợp)

(1) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhị kỷ, quyển CXIV.

(2) Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Minh Mạng, tờ 189,

tập 66.

(3) Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Minh Mạng, tờ 53, tập 65.

(4) Nội các triều Nguyễn, Khâm đinh Đại Nam Hội điển sự lệ, bản dịch của Viện Sử học, NXB Thuận Hóa, 1992, tập 15, trang 444.

(5) Nội các triều Nguyễn, Khâm đinh Đại Nam Hội điển sự lệ, bản dịch của Viện Sử học, NXB Thuận Hóa, 1992, tập 15, trang 445.

(6) Khâm Nội các triều Nguyễn, Khâm đinh Đại Nam Hội điển sự lệ, bản dịch của Viện Sử học, NXB Thuận Hóa, 1992, tập 15, trang 445.

(7) Nội các triều Nguyễn, Khâm đinh Đại Nam Hội điển sự lệ, bản dịch của Viện Sử học, NXB Thuận Hóa, 1992, tập 15, trang 444-445.

(8) Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Thiệu Trị, tờ 115, tập 26.

(9) Hồi tỵ là kiêng tránh những người thân thuộc, dâu gia với nhau thì không được cùng làm việc trong một cơ quan.

(10) Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Tự Đức, tờ 137, tập 167.

Theo Quân đội Nhân dân

Tags: triều Nguyễn  |  Khâm thiên  |  thiên văn  |  Châu bản  |  sát hạch  |  Đại Nam Hội  |  xem ngày  |  xem xét  |  Quốc gia  |  quan sát