Phòng ngừa bệnh 'khớp đớp tim'

Bệnh thấp tim tên gọi khác là thấp khớp cấp hoặc sốt thấp khớp (còn gọi theo truyền miệng là bệnh 'khớp đớp tim') là một bệnh viêm cấp tính có tính chất toàn thân (liên quan đến miễn dịch). Bệnh có tổn thương khớp và biến chứng trên tim mạch, chỉ xảy ra sau một hay nhiều đợt viêm họng do liên cầu beta tan huyết nhóm A.

Do mọi người vẫn thường quen gọi là 'bệnh khớp đớp tim' nên có sự lầm tưởng tổn thương tim là do các bệnh về khớp gây ra khiến nhiều bệnh nhân đang mắc các bệnh về khớp như thoái hóa khớp, viêm khớp lo lắng. Tuy nhiên, bệnh thấp tim là do liên cầu khuẩn beta tan huyết nhóm A gây ra. Vi khuẩn này thường gây ra các bệnh về hô hấp như viêm họng, viêm đường hô hấp trên hoặc viêm da do liên cầu. Khi bị nhiễm loại vi khuẩn này, cơ thể sẽ sản sinh ra một loại kháng thể chống lại nó. Mà bản thân các vi khuẩn lại có cấu trúc gần giống với cấu trúc của mô khớp và van tim. Nên khi kháng thể tấn công tiêu diệt vi khuẩn, nó cũng tấn công làm tổn thương mô khớp và van tim luôn, làm cho khớp bị sưng lên, còn van tim thì biến dạng gây ra hẹp hở van tim, từ đó đưa đến suy tim, ứ huyết tại gan và làm suy chức năng gan.

Thấp tim là một bệnh khá nguy hiểm bởi thương tổn có tính chất toàn thân. Các bộ phận như: tim, thận, khớp, phổi, gan, thần kinh, da... đều có thể bị tổn thương ở mức độ khác nhau. Đây là bệnh thường gặp ở trẻ đang độ tuổi đi học, 5 - 15 tuổi. Tuy nhiên, không phải tất cả những trẻ bị viêm họng đều bị thấp tim, khoảng 3% trẻ bị viêm họng mắc bệnh này. Nếu không được chẩn đoán, điều trị đúng sẽ để lại di chứng đe dọa tính mạng lâu dài.

Những biểu hiện của bệnh thấp tim

Bệnh thấp tim thường được bắt nguồn sau một đợt viêm họng, viêm amidan, viêm xoang hoặc viêm da do nhiễm liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A (streptococus type A). Đặc biệt là sau nhiều đợt viêm cấp tái phát thì nguy cơ bị thấp tim càng cao. Dấu hiệu ban đầu của thấp tim là trẻ thường sốt từ 38 - 400C, có thể họng đỏ, vã mồ hôi, chảy máu cam, đái ít, mệt mỏi, kém ăn, sắc mặt nhợt nhạt. Cũng có trường hợp triệu chứng chỉ thoáng qua, không gây nên khó chịu gì đối với trẻ nhưng sau đó khoảng 1-5 tuần thì có biểu hiện đau ở khớp.

Biểu hiện ở khớp: Điển hình là đau viêm sưng nóng đỏ ở một số khớp, đau 'chạy' từ khớp này sang khớp khác. Khớp bị sưng, đau, nóng đỏ thường là các khớp lớn như khớp gối, khớp khuỷu, khớp cổ chân, cổ tay làm cho người bệnh đi lại và cử động rất khó khăn; ít khi thấy sưng đau ở các khớp cột sống hoặc khớp ngón tay, ngón chân. Khi khớp sau bị sưng đau thì các khớp bị sưng đau trước đó lại khỏi và trở lại hoạt động bình thường, không bao giờ có biến dạng khớp và bị hạn chế cử động như các loại viêm khớp khác. Chính vì biểu hiện ở khớp ồn ào như vậy nên đã có thời gian khá dài bệnh được mang tên là bệnh 'thấp khớp cấp'. Tuy vậy, từ xa xưa, các thầy thuốc có kinh nghiệm đã nói rằng bệnh chỉ 'liếm' qua khớp nhưng lại 'đớp' vào tim. Thực ra ngay khi người bệnh có cơn đau ở khớp thì ở tim cũng có tổn thương (cơ tim, các màng tim và các van tim) làm cho người bệnh mệt mỏi, đau tức ngực, khó thở.

Để phòng bệnh thấp tim, khi trẻ bị viêm họng cần đi khám bác sĩ để được chẩn đoán kịp thời.

Biểu hiện ở tim: Đây là biểu hiện thường gặp và rất nguy hiểm. Tổn thương ở tim có thể là: viêm màng trong tim và các van tim, viêm cơ tim hoặc viêm màng ngoài tim đơn độc. Song có thể toàn bộ tim bị viêm làm trẻ có biểu hiện như: mệt mỏi, tức ngực, hồi hộp, khó thở, loạn nhịp tim hoặc có những tiếng bất thường ở tim. Tình trạng viêm tim nặng có thể dẫn đến suy tim cấp nếu không được cứu chữa kịp thời có thể tử vong rất nhanh hoặc để lại di chứng ở van tim nặng nề, nguy hiểm về sau.

Biểu hiện ở thần kinh: Đây là thể thấp tim rất đặc biệt, biểu hiện lúc đầu có thể trẻ chỉ thay đổi tâm tính, hay cáu gắt, mệt mỏi, có thể kèm theo rối loạn như: múa tay chân bất thường, nói khó, cầm đũa, bút viết hay rơi, viết xấu, không thẳng hàng...

Biểu hiện ở da: Trên da, đặc biệt là xung quanh một số khớp xuất hiện những hạt cứng bằng hạt ngô, hạt lạc, hạt táo hoặc những ban màu hồng bằng đồng xu ở ngực, tay, dọc cột sống, lưng...

Các biến chứng của bệnh thấp tim

Tình trạng không được điều trị hoặc điều trị không đúng có thể có những biến chứng trong đó có nhồi máu: Nhồi máu não thận và các chi do mảnh cục sùi do viêm nội tâm mạc. Tạo điều kiện dễ dàng cho viêm nội tâm mạc nhiễm trùng cấp và bán cấp tính do vi khuẩn. Xơ hoá các van tim: nếu xơ hoá toàn bộ mặt của van tim dẫn đến van tim bị co ngắn lại và làm hở lỗ van tim, nếu xơ hoá ở giữa van tim, van tim sẽ bị co kéo theo hướng chụm vào nhau dẫn đến hẹp lỗ van tim.

Phòng bệnh cách nào?

Bệnh thấp tim có thể hoàn toàn tránh được nếu điều trị tốt và đúng khi bị viêm họng. Phải chú ý vệ sinh răng miệng cho trẻ. Tránh cho trẻ tiếp xúc với những người bị viêm nhiễm đường hô hấp trên. Khi bị viêm họng cấp phải đi khám, nếu bị viêm họng do liên cầu khuẩn phải dùng thuốc kháng sinh theo chỉ định của thầy thuốc. Tích cực chữa trị các bệnh mạn tính ở vùng miệng, hầu họng.

Khi bị thấp tim, nên nghỉ ngơi hoàn toàn trong giai đoạn tiến triển (1- 6 tuần), sau đó hoạt động nhẹ. Với thể khớp, hoạt động bình thường sau 6 tuần. Với các thể viêm cơ tim nặng, thời gian nghỉ và hoạt động bình thường có thể kéo dài hơn.

Phòng bệnh thấp tim tái phát, trẻ bị viêm họng nên đi khám bác sĩ để được cho uống đúng thuốc kháng sinh và đủ thời gian. Gia đình phải cho trẻ tái khám định kỳ mỗi 4 tuần, 3 hoặc 6 tháng tùy theo hướng dẫn của bác sĩ. Không nên bỏ tái khám vì bệnh sẽ tái phát và nặng. Khi trẻ sốt, đau sưng khớp, mệt, khó thở, phù, tiểu ít, gia đình nên đưa trẻ đến bệnh viện khám lại ngay.

Ngoài ra, những người mắc bệnh thấp khớp, sốt thấp khớp có khả năng mắc bệnh thấp tim cao, cần phải kiểm tra sức khỏe thường xuyên để phát hiện bệnh, kịp thời điều trị.

Theo BS. Thanh Đỗ/SK&ĐS Link Gốc:           Copy Link
https://suckhoedoisong.vn/phong-ngua-benh-khop-dop-tim-n166522.html

Tags: thấp khớp  |  viêm họng  |  van tim  |  biểu hiện  |  tổn thương  |  điều trị  |  vi khuẩn  |  hoạt động  |  mệt mỏi  |  phòng bệnh