Sát thủ nguy hiểm nhất trong bộ 3 răn đe hạt nhân

Tàu ngầm hạt nhân chiến lược mang tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) là vũ khí nguy hiểm nhất trong bộ ba răn đe hạt nhân của các cường quốc.

Vũ khí có uy lực mạnh với tầm bắn xa được phóng đi một cách hết sức bí mật, đây là sự mô tả về tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (submarine-launched ballistic missile, viết tắt là SLBM). Hiện nay, SLBM vẫn là mũi nhọn tấn công chính trong các đội tàu ngầm của các cường quốc hạt nhân.

Ở Hoa Kỳ, hơn một nửa số đầu đạn hạt nhân chiến lược được triển khai trên các tàu ngầm hạt nhân chiến lược (SSBN) lớp Ohio. Còn Trung Quốc sở hữu 48 quả tên lửa 'Cự Lang 2' (JL-2) với tầm bắn 8.000-9.000 km trên tàu ngầm hạt nhân Type 094 (lớp Tấn) và đang phát triển tên lửa 'Cự Lang 3' (JL-3) tiên tiến hơn, với ba tầng động cơ đẩy, có khả năng tiêu diệt mục tiêu ở khoảng cách xa tới 12.000 km.

Mặc dù sức mạnh hạt nhân của Nga chủ yếu dựa vào hàng loạt loại tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) với bệ phóng cơ động trên mặt đất, nhưng Nga cũng đã và đang phát triển những SLBM có muy lực rất mạnh.

Lịch sử phát triển của SLBM Liên Xô

Vào giữa những năm 1950, Hoa Kỳ và Liên Xô đã tích cực phát triển các phương tiện mới mang vũ khí hạt nhân để tấn công lãnh thổ đối phương. Một trong những phương pháp là triển khai tên lửa với đầu đạn hạt nhân trên tàu ngầm để tiếp cận bờ biển đối phương và tấn công từ khoảng cách gần (do công nghệ tên lửa thời đó chưa phát triển).

Vào mùa thu năm 1954, Liên Xô đã thực hiện cuộc thử nghiệm đầu tiên trên mặt đất đối với tên lửa R-11FM dành cho lực lượng tàu ngầm của hải quân. Một năm sau, tên lửa đã được phóng từ tàu ngầm. Mặc dù nó chỉ bay được 250 km, nhưng toàn thế giới đã thấy rằng, Liên Xô có khả năng thực hiện các cuộc tấn công vào lãnh thổ Tây Âu và Hoa Kỳ.

Với nền tảng công nghệ sơ khai, những quả tên lửa đạn đạo đầu tiên (cả của Liên Xô và Mỹ) chỉ có thể được phóng từ vị trí trên mặt nước và phải mất rất nhiều thời gian để chuẩn bị phóng, khiến tàu ngầm dễ dàng bị phát hiện bởi không quân và tàu chiến nổi của đối phương.

Tên lửa đầu tiên của Liên Xô được phóng từ dưới lòng biển từ độ sâu 40 mét là R-21, tên lửa này đã được trang bị cho quân đội vào năm 1963.

R-21 với tầm bắn xa 1.300 - 1.600 km có thể mang đầu đạn có sức công phá từ 800 Kt (kiloton) đến 1 Mt (megaton). Tuy nhiên, R-21 thua kém về tầm bắn các tên lửa Polaris của Mỹ (có tầm bắn 2.200-2.800 km).

Do đó, vài năm sau, Liên Xô đã thử nghiệm tên lửa R-27 có khả năng mang đầu đạn hạt nhân với sức công phá 1 megaton, có khả năng tấn cồng xa tới 3.000 km.

Các tên lửa hạt nhân phóng từ tàu ngầm là vũ khí rất khó bị đánh chặn

Tên lửa này được phóng theo phương pháp được gọi là 'xuất phát trong điều kiện ẩm ướt'. Để chuẩn bị cho việc phóng, người ta cần phải đổ nước vào miệng ống phóng để áp lực được cân bằng với bên ngoài, sau đó phải mở nắp và bật động cơ.

Tuy nhiên, việc đổ nước tạo ra tiếng ồn, khiến tàu chống ngầm của đối phương có thể nhanh chóng phát hiện và tiêu diệt tàu ngầm. Vì vậy, một yêu cầu cấp bách đặt ra là trên tàu ngầm phải được bố trí các tên lửa đẩy nhiên liệu rắn. Chúng được đẩy từ miệng hầm bằng thuốc nổ và động cơ chính được bật ở trên mặt nước. Phương pháp này nhanh hơn và không gây tiếng ồn.

Sau đó, Liên Xô đã chế tạo thành công các loại SLBM nhiên liệu rắn là R-31, R-39, còn sau này Nga đã tiếp nối truyền thống khi tự phát triển tên lửa tiên tiến thế hệ mới nhất là RSM-56 Bulava (mã Grau là 3M30, NATO định danh SS-NX-30).

Dành cho tàu ngầm lớp Dolphin và Borey

Ngày nay, các tàu ngầm hạt nhân của Nga sử dụng một số loại tên lửa đạn đạo, trong đó có cả loại nhiên liệu lỏng và nhiên liệu rắn.

Đầu tiên là tên lửa hai tầng R-29R sử dụng nhiên liệu lỏng, được trang bị trên các tàu ngầm cuối cùng thuộc dự án 667BDR (lớp Kalmar, NATO định danh là lớp Delta) vẫn còn phục vụ. Mỗi tên lửa loại này có thể mang 3 đầu đạn 200 Kt, với phạm vi phóng là 6.500 km.

Thứ hai là tên lửa ba tầng R-29RM sử dụng nhiên liệu lỏng. Tên lửa này được trang bị cho các tàu ngầm thuộc dự án Dolphin. Phiên bản sửa đổi mới nhất của tên lửa này là 'Sineva' có tầm phóng hơn 11.550 km, mang theo 4 hoặc 10 đầu đạn với sức công phá 500 hoặc 100 Kt, có khả năng 'vượt mặt' các hệ thống phòng thủ tên lửa của đối phương.

Thứ ba là tên lửa hiện đại nhất Bulava sử dụng nhiên liệu rắn. Bulava được trang bị cho các tàu ngầm thuộc dự án Borey và dự án 941 (tàu ngầm hạng nặng Dmitry Donskoy).

Một quả tên lửa Bulava mang sáu đầu đạn, mỗi đầu đạn có đương lượng nổ 150 Kt và có khả năng tấn công xa hơn 9.000 km. Độ lệch mục tiêu của tên lửa này chỉ vào khoảng 350m - điều này không có ý nghĩa gì với đầu đạn hạt nhân có sức công phá khủng khiếp.

Ưu điểm lớn của Bulava là giai đoạn tăng tốc của nó rất ngắn (mà chính ở giai đoạn này tên lửa dễ bị tổn thương nhất bởi các hệ thống phòng thủ tên lửa của đối phương). Ngoài ra, nó có tính cơ động cao để bảo vệ khỏi các máy bay đánh chặn được thiết kế các tên lửa có quỹ đạo đạn đạo thông thường.

Các tàu ngầm hạt nhân hiên đại nhất của Nga thuộc lớp Borey có khả năng phóng liên tiếp 4 quả tên lửa trong vài giây – điều mà tàu ngầm Mỹ không làm được.

Những ưu điểm nổi bật trên khiến Borey và Bulava trở thành cặp song sát nguy hiểm nhất của Nga trong bộ 3 vũ khí răn đe chiến lược (cùng với tên lửa đạn đạo liên lục địa phóng từ trên mặt đất – ICBM và tên lửa hành trình phóng từ máy bay ném bom chiến lược).

Theo Toàn Thắng/Đất Việt

Link báo gốc: http://baodatviet.vn/quoc-phong/vu-khi/sat-thu-nguy-hiem-nhat-trong-bo-3-ran-de-hat-nhan-3389958/

Tags: hạt nhân  |  tên lửa  |  tàu ngầm  |  đầu đạn  |  nhiên liệu  |  đạn đạo  |  Liên Xô  |  khả năng  |  chiến lược  |  phát triển