Vốn ngân hàng góp phần xây dựng nông thôn mới

Xác định nông nghiệp, nông thôn (NNNT) là một trong các lĩnh vực ưu tiên tập trung đầu tư vốn tín dụng, thời gian qua, ngành ngân hàng đã có nhiều chính sách, giải pháp đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất nông nghiệp (SXNN), góp phần xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. Trong mấy năm gần đây, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực NNNT tăng trưởng bình quân gần 20%/năm, luôn cao hơn so với tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế.

Những chính sách hướng đến phát triển nông nghiệp, nông thôn

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam luôn xác định NNNT là một trong các lĩnh vực ưu tiên tập trung đầu tư vốn tín dụng. Theo đó, NHNN Việt Nam đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) cân đối nguồn vốn để đáp ứng đầy đủ, kịp thời vốn cho lĩnh vực này; quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với lĩnh vực NNNT thấp hơn từ 1%-2% lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tiết giảm thủ tục vay vốn, đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng phù hợp đặc thù SXNN và trình độ của người dân khu vực nông thôn nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn vay của người dân.

Trong công tác xây dựng cơ chế, chính sách tín dụng phù hợp để thúc đẩy phát triển NNNT, NHNN Việt Nam đã chủ động tham mưu trình Chính phủ ban hành chính sách tín dụng phù hợp với đặc thù của lĩnh vực này, như: Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12-4-2010, Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 9-6-2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển NNNT. Và mới đây nhất, NHNN Việt Nam đã tham mưu với Chính phủ ban hành Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 7-9-2018 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2015/NĐ-CP với nhiều cơ chế, chính sách đột phá như nâng gấp đôi mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình (đối với cá nhân, hộ gia đình SXNN cư trú ngoài khu vực nông thôn từ 50 triệu đồng lên 100 triệu đồng; cá nhân, hộ gia đình cư trú tại địa bàn nông thôn từ 100 triệu đồng lên 200 triệu đồng).

Thống đốc NHNN Việt Nam Lê Minh Hưng, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đã ký quyết định nâng mức cho vay tối đa từ 50 triệu đồng/hộ lên 100 triệu đồng/hộ vay không phải bảo đảm tiền vay đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, cho vay phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi và kéo dài thời hạn cho vay từ 60 tháng lên tối đa 120 tháng đối với hộ nghèo.

Ảnh minh họa: thoibaonganhang.vn. 

Bên cạnh đó, ngành ngân hàng còn triển khai một số chương trình tín dụng đặc thù góp phần hỗ trợ doanh nghiệp, người dân đầu tư phát triển một số mặt hàng nông sản thế mạnh của Việt Nam như lúa gạo, thủy sản, cà phê: Cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Nghị quyết số 30/NQ-CP của Chính phủ; chính sách tín dụng hỗ trợ ngư dân đóng mới, nâng cấp tàu phục vụ khai thác hải sản theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP; chính sách tín dụng hỗ trợ người dân, doanh nghiệp đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg... NHNN Việt Nam cũng đã chỉ đạo và ban hành nhiều văn bản tạo hành lang pháp lý cho hoạt động của NHCSXH, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của người dân nông thôn, giảm nghèo bền vững, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Tăng khả năng tiếp cận vốn cho người dân nông thôn

Cùng với các chính sách trên, thời gian qua, NHNN Việt Nam cũng như hệ thống TCTD đã tích cực triển khai một số giải pháp để tăng khả năng tiếp cận vốn cho các đối tượng người dân khu vực NNNT. Ngoài cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh, NHNN Việt Nam cũng chỉ đạo các TCTD tăng cường cho vay phục vụ các nhu cầu đời sống, tiêu dùng chính đáng của người dân, đặc biệt là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, phát triển thêm các gói sản phẩm tín dụng phù hợp với những đối tượng ở vùng khó khăn, chưa dễ dàng tiếp cận được với tín dụng ngân hàng.

Đồng thời, NHNN Việt Nam đã chỉ đạo TCTD tăng cường kết nối ngân hàng-doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng, đặc biệt là doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ cao, liên kết với nông dân trong SXNN trên địa bàn nông thôn; tiếp tục đơn giản hóa thủ tục vay vốn, đồng thời niêm yết công khai, minh bạch các quy trình, thủ tục cho vay, rút ngắn thời gian xét duyệt cho vay, nhất là ở khu vực NNNT, để người dân được vay vốn một cách thuận lợi với thời gian nhanh nhất. Các ngân hàng đã phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị-xã hội trong việc thông tin tuyên truyền, phổ biến chính sách tín dụng phục vụ phát triển NNNT đến các tổ chức, cá nhân trên địa bàn và đưa vốn đến tận tay người dân một cách hiệu quả nhất.

Ngoài ra, NHNN Việt Nam cũng khuyến khích các TCTD mở rộng mạng lưới hoạt động ngân hàng ở khu vực NNNT, cụ thể như phát triển hệ thống ngân hàng lưu động; tăng cường mạng lưới, bổ sung chương trình, sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đến các điểm giao dịch tại hầu hết các xã của 63 tỉnh, thành phố để hỗ trợ tài chính cho các hộ nghèo và đối tượng chính sách.

Đặc biệt, mỗi khi đồng bào gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh hoặc khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, ngành ngân hàng luôn có những chính sách và giải pháp kịp thời, như: Hỗ trợ bà con trong sản xuất, tiêu thụ lúa gạo đông xuân tại Đồng bằng sông Cửu Long, tháo gỡ khó khăn cho bà con trong chăn nuôi lợn do dịch tả lợn châu Phi và người dân trồng tiêu tại tỉnh Gia Lai.

Cần tiếp tục nâng cao hiệu quả vốn vay cho nông nghiệp, nông thôn

Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp, chính sách nêu trên, tín dụng đối với lĩnh vực NNNT trong những năm qua đã đạt kết quả đáng khích lệ.

Về mạng lưới, nếu như trước đây chỉ có Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) cho vay lĩnh vực này thì hiện nay có hơn 70 NHTM, hơn 1.100 Quỹ tín dụng nhân dân và NHCSXH tham gia cho vay phát triển NNNT; với mô hình ngân hàng lưu động của Agribank, các điểm giao dịch của NHCSXH đặt tại hầu hết các xã, thôn, bản tại 63 tỉnh, thành phố đã hỗ trợ tài chính và cung cấp dịch vụ ngân hàng tới tận vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn cho đại đa số bộ phận người dân.

Tín dụng đối với lĩnh vực NNNT năm 2014 tăng 10,8%, năm 2015 tăng 13,34%, năm 2016 tăng 18,09%, năm 2017 tăng 25,5%, năm 2018 tăng 21,4%. Đến cuối tháng 6-2019, tín dụng đối với lĩnh vực NNNT tăng gần 6%, chiếm tỷ trọng khoảng 25% dư nợ tín dụng nền kinh tế.

NHCSXH hiện nay cũng đang triển khai khoảng 20 chương trình tín dụng chính sách dành cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách, trong đó có hơn 85% dư nợ cho vay phục vụ phát triển lĩnh vực NNNT. Theo báo cáo của NHCSXH, đến 31-8-2019, NHCSXH đang quản lý các chương trình tín dụng chính sách xã hội theo chỉ định của Chính phủ và một số dự án cho vay, tổng dư nợ đạt 199.823 tỷ đồng, với 8,2 triệu món vay của gần 6,6 triệu khách hàng đang còn dư nợ.

Kết quả đầu tư tín dụng của hệ thống các TCTD đã góp phần không nhỏ giúp người dân, doanh nghiệp có vốn đầu tư sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu vốn tiêu dùng của người dân khu vực nông thôn, qua đó đóng góp tạo ra mức tăng GDP của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (năm 2018 tăng 3,76%, cao nhất trong giai đoạn 2012-2018).

Bên cạnh những kết quả tích cực, chúng ta cũng phải nhìn nhận thực tế việc đầu tư tín dụng của ngành ngân hàng đối với lĩnh vực NNNT còn một số khó khăn, vướng mắc do nông nghiệp là một trong các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro nhưng các cơ chế xử lý, phòng ngừa rủi ro như bảo hiểm trong nông nghiệp chưa được triển khai mạnh mẽ. Bên cạnh đó, SXNN còn manh mún, nhỏ lẻ; sản xuất theo chuỗi giá trị chưa được tổ chức và phát triển hợp lý; trình độ chế biến sâu còn hạn chế nên giá trị gia tăng thấp. Các mô hình liên kết số lượng còn ít, thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp thiếu ổn định, tình trạng mất cân đối cung cầu sản xuất và tiêu dùng, xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp thường diễn ra, trong khi công tác phân tích, dự báo thị trường cũng như quy hoạch còn bất cập...

Do đó, để đầu tư tín dụng cho NNNT thực sự hiệu quả, cùng với các chính sách và giải pháp của ngành ngân hàng, rất cần sự vào cuộc của các bộ, ngành, chính quyền địa phương và bản thân các cá nhân, tổ chức SXNN trong triển khai đồng bộ các giải pháp. Trong đó có việc đánh giá, dự báo và cảnh báo về nhu cầu thị trường đối với sản phẩm nông nghiệp, nhất là sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao làm cơ sở định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ các doanh nghiệp tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

Theo PHƯƠNG LINH/Quân đội Nhân dân

Link báo gốc: https://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/von-ngan-hang-gop-phan-xay-dung-nong-thon-moi-593217

Tags: nông thôn  |  ngân hàng  |  tín dụng  |  chính sách  |  nông nghiệp  |  Cho vay  |  lĩnh vực  |  người dân  |  phát triển  |  sản xuất