Bộ Tài chính: Một số điều chỉnh đối với khoản vay của IBRD

Bộ Tài chính vừa có văn bản gửi các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố thông báo một số điều chỉnh đối với khoản vay của IBRD cho năm tài chính 2021.

Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế - IBRD.(Nguồn: Slideshare)

Bộ Tài chính vừa có văn bản số 862/BTC-QLN gửi các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thông báo một số điều chỉnh đối với khoản vay của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế (IBRD) cho năm tài chính 2021.

Bộ Tài chính cho biết điều kiện chung khoản vay IBRD cho đến thời điểm hiện tại bao gồm đồng tiền vay là USD, EUR, JPY, GBP. Nếu bên vay muốn vay bằng bất kỳ một đồng tiền nào mà IBRD có thể thu xếp, thì điều kiện khoản vay, lãi suất sẽ được IBRD xem xét, tính toán và có thông báo riêng.

Thời hạn khoản vay tối đa là 35 năm bao gồm cả thời gian ân hạn nợ gốc; kỳ hạn trả nợ trung bình của khoản vay tối đa là 20 năm. Thời gian ân hạn từ 0-19,5 năm, tuy nhiên phải đảm bảo thời hạn trả nợ trung bình tối đa 20 năm.

Lãi suất được tính bằng lãi suất tham chiếu cộng với biên độ cố định hoặc thả nổi, mức biên độ cố định/thả nổi phụ thuộc vào đồng tiền vay và thời hạn vay.

Tuy nhiên, theo thông báo của Ngân hàng Thế giới (WB), khoản vay IBRD sẽ có một số điều chỉnh cho năm tài chính 2021.

Cụ thể sẽ điều chỉnh về điều kiện vay đối với khoản vay giải ngân nhanh. Tất cả các khoản vay (trừ khoản vay Chính sách phát triển đặc biệt) sử dụng từ gói hỗ trợ xử lý khủng hoảng của IBRD đã phê duyệt trong năm tài chính 2021 sẽ phải áp dụng điều kiện vay IBRD thông thường với kỳ hạn trả nợ trung bình tối đa 8 năm, thời gian ân hạn 3-5 năm (không được lựa chọn các thời hạn vay khác).

Điều kiện vay này áp dụng cho tất cả các khoản vay giải ngân nhanh gồm các khoản vay đi kèm chính sách phát triển (DPF), khoản vay tài trợ dự án đầu tư (IPF) và chương trình tài trợ dựa trên kết quả (PforR) có số tiền giải ngân lũy kế bằng hoặc hơn 60%, tính đến thời điểm 2 năm kể từ ngày được Hội đồng giám đốc phê duyệt khoản vay.

Bên cạnh đó, sẽ điều chỉnh tăng mức chênh lệch cố định lãi suất đối với tất cả các khoản vay linh hoạt của IBRD áp dụng cho các kỳ hạn và các loại tiền tệ. Theo đó, mức chệnh lệch cố định áp dụng đối với khoản vay linh hoạt của IBRD từ lãi suất cho vay USD trên 18 năm đến dưới 8 năm có mức tăng từ 0,10% đến 0,15%.

Trước đó, tại văn bản số 10110/VPCP-QHQT ngày 02/12/2020 về một số điều chỉnh đối với khoản vay của IBRD, thuộc nhóm Ngân hàng Thế giới, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Bình Minh đã có ý kiến chỉ đạo các bộ ngành địa phương khi xây dựng các chương trình dự án dự kiến đề xuất sử dụng vốn IBRD cần đảm bảo hiệu quả.

Riêng đối với khoản vay bằng tiền hỗ trợ trực tiếp ngân sách nhà nước, cần đánh giá thận trọng, chặt chẽ theo hướng không ưu tiên sử dụng vốn vay IBRD cho các khoản vay hỗ trợ ngân sách/giải ngân nhanh.

Đồng thời ưu tiên sử dụng vốn IBRD cho các chương trình, dự án vay về cho vay lại theo quy định của pháp luật về cho vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ, chương trình, dự án thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội phù hợp với quy định./.

Theo Thùy Dương/VietnamPlus Link Gốc:           Copy Link
http://www.vietnamplus.vn/bo-tai-chinh-mot-so-dieu-chinh-doi-voi-khoan-vay-cua-ibrd/691722.vnp

Tags: IBRD  |  Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế  |  lãi suất  |  ân hạn nợ gốc  |  khoản vay