Tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành công nghiệp vật liệu

Ngành công nghiệp vật liệu (CNVL) là ngành nền tảng đóng vai trò quan trọng, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp khác.

Tuy nhiên, thời gian qua, ngành CNVL phát triển chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, năng lực sản xuất còn nhỏ, năng suất và chất lượng thấp. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là nguồn nhân lực của ngành CNVL còn thiếu và yếu, đòi hỏi cần có những cơ chế, chính sách phù hợp thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực CNVL.

Nguồn nhân lực còn thiếu và yếu

Một trong những nội dung của quan điểm phát triển trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) 10 năm 2021-2030 được Đảng ta xác định là 'phải hình thành năng lực sản xuất quốc gia mới có tính tự chủ, tham gia hiệu quả, cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu và khả năng chống chịu hiệu quả trước các tác động lớn, bất thường từ bên ngoài'. Để thực hiện được quan điểm này, yêu cầu đặt ra là phải phát triển những ngành công nghiệp nền tảng mà CNVL cần ưu tiên đi trước một bước, tạo hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp sản xuất khác, góp phần bảo đảm xây dựng được một nền công nghiệp vững mạnh, độc lập, tự chủ, phát triển nhanh và bền vững.

Sản xuất gạch không nung tại Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Toàn Cầu. 

Thời gian qua, nhận thức được vai trò quan trọng của ngành CNVL, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã chủ động, tích cực phối hợp với các bộ, ngành liên quan đẩy mạnh hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo để góp phần phát triển KT-XH nói chung và lĩnh vực CNVL nói riêng. CNVL mới được xác định là một trong 4 công nghệ cao được ưu tiên. Bên cạnh đó, các nội dung nghiên cứu, ứng dụng vật liệu cũng được ưu tiên lồng ghép trong các chương trình KH&CN cấp quốc gia. Thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) và phát triển công nghệ đã hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp tăng cường tiềm lực, đặc biệt góp phần đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ nghiên cứu, qua đó làm chủ được các công nghệ mới, tiên tiến của thế giới.

Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Kinh tế Trung ương Trần Tuấn Anh đánh giá: Việt Nam có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển ngành CNVL. Tuy nhiên, phải thừa nhận một thực tế là CNVL của nước ta phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, mong muốn và yêu cầu đặt ra. Nguyên vật liệu trong nước vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của nhiều ngành, lĩnh vực sản xuất quan trọng, dẫn đến phụ thuộc nguyên vật liệu nhập khẩu, ảnh hưởng đến năng lực tự chủ, tự cường của nền kinh tế. Sức cạnh tranh của nhiều ngành vật liệu còn hạn chế cả về trình độ công nghệ, năng lực sản xuất, chất lượng và chi phí. Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng nêu trên là nguồn nhân lực của ngành CNVL còn thiếu và yếu. Đào tạo nguồn nhân lực chưa gắn kết chặt chẽ với phát triển KH&CN. Cơ chế, chính sách cho phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực trong ngành CNVL nói riêng còn nhiều bất cập.

Cần có chế độ đãi ngộ thỏa đáng để thu hút nhân tài

Trước yêu cầu phát triển công nghiệp quốc gia cho giai đoạn mới, trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng với việc thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cũng như sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đòi hỏi cần phải có cách tiếp cận và tư duy mới về phát triển CNVL mà trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực CNVL. Bộ trưởng Bộ KH&CN Huỳnh Thành Đạt nhấn mạnh, nhiệm vụ chiến lược của ngành KH&CN đối với phát triển ngành CNVL trong thời gian tới là 'khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển ngành CNVL, phát triển nguồn nhân lực KH&CN ngành CNVL của Việt Nam tương xứng với tiềm năng, đáp ứng nhu cầu, chủ động phát triển các ngành kinh tế'.

Bộ KH&CN cũng đang phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng dự thảo nghị định quy định hoạt động KH&CN trong các cơ sở giáo dục đại học, trong đó có cơ chế, chính sách công nhận cho các nhóm nghiên cứu, nhóm nghiên cứu mạnh trong các cơ sở giáo dục đại học. Theo số liệu thống kê, có khoảng 51,2% nhân lực làm công tác NCKH và phát triển công nghệ đang làm việc trong các cơ sở giáo dục đại học, tương đương gần 90.000 người. Các chính sách khuyến khích sự hình thành và phát triển của các nhóm nghiên cứu mạnh trong các cơ sở giáo dục đại học được kỳ vọng sẽ thúc đẩy được hoạt động NCKH và phát triển công nghệ đối với số lượng lớn các nhà khoa học có trình độ cao nói chung và trong lĩnh vực CNVL nói riêng.

Các chuyên gia đề xuất, thời gian tới, Việt Nam cần tập trung đầu tư cho các nghiên cứu và phát triển về công nghệ nano và vật liệu. Đây đang là xu thế nghiên cứu và phát triển của toàn cầu. Về đào tạo nguồn nhân lực và NCKH, cần có chế độ đãi ngộ thỏa đáng để thu hút nhân tài trong và ngoài nước phục vụ đất nước. Bên cạnh đó, cần có sự thay đổi quy chế đào tạo sau đại học theo hướng hỗ trợ, thu hút người học giỏi tham gia các chương trình NCKH trong nước. Cần có chính sách, cơ chế và đầu tư kinh phí cụ thể để xây dựng các trung tâm xuất sắc tại Việt Nam nhằm tạo ra các sản phẩm đào tạo, KH&CN liên ngành đáp ứng yêu cầu của xã hội. Ngoài ra, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các nhà nghiên cứu, kỹ sư sản xuất, thiết kế sản phẩm... với tất cả các ngành tương tác với nhau trong chuỗi vật liệu-sản phẩm.

Theo Bài và ảnh: LA DUY/Quân đội Nhân dân Link Gốc:           Copy Link
https://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/tao-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-cho-nganh-cong-nghiep-vat-lieu-656733

Tags: nguồn nhân lực chất lượng cao